Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương Đảng đang tập trung thảo luận và thông qua Đề án “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế”. Đây cũng là vấn đề đang thu hút sự quan tâm của nhiều bạn đọc, nhiều giới. Báo SGGP đã trao đổi với ông Phan Xuân Biên - Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy, Viện trưởng Viện Nghiên cứu xã hội TPHCM để làm rõ hơn bức tranh về trí thức và đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay.
* PV: Để bàn về chính sách trí thức (TT) Việt Nam hiện nay trước hết phải xác định được khái niệm về đối tượng này. Ông “họa chân dung” TT và đội ngũ TT Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) như thế nào?
* Ông PHAN XUÂN BIÊN: Tiêu chí để phân biệt TT trước hết là nghề nghiệp, đó là một tầng lớp xã hội gồm những người hoạt động trong rất nhiều chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau do đã được đào tạo ở bậc cao trong nhà trường, với thuộc tính cơ bản là làm việc trí óc. Vì thế, họ ít nhiều thường có sáng tạo; càng có đầu óc khái quát, tư duy trừu tượng thì càng có sức sáng tạo cao. Không có “nghề”, không “thực nghiệp” thì không thể xếp vào TT.
Trong thời hiện đại, khi khoa học công nghệ phát triển, thực hiện CNH-HĐH thì lao động trí óc và lao động chân tay thật khó phân biệt rạch ròi. Ranh giới giữa TT và công nhân dù vẫn còn, song ngày càng thu hẹp. Công nhân có thể là TT, TT là công nhân. Vì vậy lúc này “TT hóa công nhân” là xu hướng thời đại, còn “công nhân hóa TT” dường như không còn ý nghĩa nữa.
* Ông có nhận xét gì về thực trạng của đội ngũ TT Việt Nam nói chung và của TPHCM nói riêng hiện nay? Hạn chế của đội ngũ TT Việt Nam hiện nay là gì, thưa ông?
* Điều có thể dễ dàng nhận thấy là số lượng tăng rất nhanh. Sau Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp chỉ có vài trăm kỹ sư, bác sĩ, cao đẳng… được xếp vào đội ngũ TT, nay đã có trên 1 triệu người tốt nghiệp đại học-cao đẳng, hàng ngàn giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, hàng chục ngàn thạc sĩ … hoạt động trên tất cả các ngành nghề, trong đó đông đảo nhất là khoa học công nghệ (KHCN), giáo dục-đào tạo (GD-ĐT), văn hóa. Riêng ở TPHCM số người được gọi là TT đã chiếm 5% dân số.
TT Việt Nam, đặc biệt là TT TPHCM được đào tạo từ rất nhiều nguồn: ở miền Bắc và ở các nước XHCN trước 1975; TT được đào tạo tại chỗ trước năm 1975 và nguồn TT mới sau này được đào tạo trong nước và nuớc ngoài theo những thể chế chính trị khác nhau… Trong đó, số được đào tạo từ các nước XHCN và trong nước trước đây vẫn giữ vai trò quan trọng. Đội ngũ TT Việt Nam còn có một lực lượng rất đáng quý là “trí thức Việt kiều” (khoảng 300.000 người) trong đó có một số ở lĩnh vực KHCN trình độ cao. Đây là ưu điểm của đội ngũ TT Việt Nam, được đào tạo từ nhiều nguồn cũng có nghĩa là tiếp thu được nhiều tri thức nhân loại, nhiều kết quả giáo dục từ nền giáo dục của các nước khác nhau. Sự đa dạng này nếu biết sử dụng thì kết quả rất tốt.
Bên cạnh những thế mạnh ấy, đội ngũ TT Việt Nam hiện nay, nhất là những TT được đào tạo sau này vẫn còn nhiều hạn chế. Từ bức tranh tổng thể về TT Việt, có thể đánh giá tóm tắt đặc tính cơ bản của TT Việt Nam như sau: nhanh nhạy, thông minh nhưng ít có điều kiện đi sâu, vươn xa nên không bền và chưa có nhiều kết quả xuất sắc trong sáng tạo; tinh thần dân tộc cao, yêu nước thương nòi nhưng tính cố kết, hợp tác còn yếu; vừa “sĩ” vừa “sùng ngoại” nên hạn chế tính sáng tạo cơ bản, bền vững. Tóm lại, đội ngũ TT Việt Nam hiện chưa ngang tầm thời đại, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đất nước.
* Nguyên nhân của hạn chế này là gì? Và làm sao để nâng tầm đội ngũ TT Việt xứng với nhu cầu phát triển?
* Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên (tích cực và khiếm khuyết) bắt nguồn từ truyền thống văn hóa, tính cách con người Việt Nam bởi “TT là lực lượng tiêu biểu của văn hóa dân tộc”. Đồng thời bối cảnh lịch sử, thực trạng kinh tế-xã hội của đất nước, chính sách đối với TT, nền GD-ĐT cũng là yếu tố tác động đến sự hình thành phẩm chất, đặc tính của người TT và đội ngũ TT. Trong đó nguồn gốc sâu xa và trực tiếp là GD-ĐT.
Để khắc phục những hạn chế này, theo tôi phải bắt đầu từ việc chấn hưng GD một cách căn cơ. Chất lượng GD của chúng ta có những vấn đề bất cập như hiện nay chắc chắn có nguồn gốc sâu xa từ lý luận sư phạm. Đặc biệt ở thời kỳ CNH–HĐH, hội nhập, việc quốc tế hóa đào tạo cao cấp đang là một giải pháp để chuẩn hóa hữu hiệu và là một trong những chiến lược tối quan trọng. Điều này bắt nguồn từ thực tế, trình độ lý thuyết, thực hành về KHCN của TT nước ta hiện nay rất lạc hậu, trình độ ngoại ngữ yếu kém so với các nước trong khu vực.
* Như ông đã nói ở trên, TT của ta khá đa dạng, nếu biết cách sử dụng thì kết quả rất tốt. Vậy theo ông nên sử dụng đội ngũ TT như thế nào là đúng cách?
* Trước hết, phải nhìn nhận thẳng thắn, trung thực thái độ của Đảng, nhà nước đối với TT. Đảng ta rất tôn trọng đội ngũ TT. Tuy nhiên, chủ trương chung là vậy nhưng một số chính sách xã hội của ta, đặc biệt là trong việc thực hiện, vẫn còn chưa hoàn hảo, thậm chí có lúc còn có sự phân biệt đối xử với đội ngũ TT được đào tạo từ các nguồn khác nhau. Chính sự phân biệt này đã làm yếu và hạn chế việc sử dụng đội ngũ TT.
Theo tôi, yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất trong việc sử dụng đội ngũ TT là phải tạo được bầu không khí phóng khoáng cho sinh hoạt trí tuệ, dân chủ hóa thể chế TT, tự do sáng tạo. Đây là điều quan trọng nhất chứ không phải tiền bạc. TT không thích lắm khẩu hiệu “trải thảm đỏ” với mức lương cao, cấp đất, cấp nhà nếu anh về quê phục vụ… Lương đủ ăn nhưng điều kiện sáng tạo thì sao - cuối cùng cũng chỉ là “dài lưng tốn vải” và sự xung đột ắt sẽ diễn ra.
Thứ hai là phải đề cao tính chuyên nghiệp ở mọi ngành KHCN, văn học nghệ thuật. Tất cả các thế hệ được đào tạo từ các nguồn đều phải nhắm vào tính chuyên nghiệp, sự tinh thông nghề nghiệp, có ý chí vươn đến trình độ chuyên gia.
Thứ ba là phải xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN với đội ngũ công chức được khoa bảng hóa, chuyên nghiệp hóa ở mọi cấp. Hiện nay, 70%-80% công chức trong chính quyền trung ương đã có trình độ đại học, tỷ lệ này là 50% ở tuyến quận huyện… nhưng chất lượng chuyên nghiệp thì chưa cao, có nơi còn rất tồi tệ.
KIM LIÊN