Đội ngũ trí thức trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Đào tạo – chiêu hiền – đãi ngộ

Ngày xưa, một người làm ruộng chỉ nuôi nổi 4-5 người. Giờ với máy móc, kỹ thuật, một người có thể nuôi sống 40-50 người. Khác biệt đó là do thành tựu của trí thức, của công nghệ. Do vậy, trí thức hiện nay đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế hội nhập thế giới. Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt các mức độ (hay trình độ) trí thức khác nhau: trung cấp, cao đẳng, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ.



Đào tạo trí thức


Số lượng trí thức có chuyên môn cao của Việt Nam đang thiếu trầm trọng. Các chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực nghiên cứu trọng điểm như công nghệ sinh học (CNSH) có bằng tiến sĩ (TS) được đào tạo bài bản thực sự không nhiều. Nhiều người trong số này không có được cơ hội thực tập, làm việc trong môi trường có nền công nghệ tiên tiến (chương trình hậu TS - postdoc) nên chưa có nhiều kinh nghiệm trong các chương trình nghiên cứu mang tính chiến lược. Trong mỗi trường đại học của các nước phát triển, số người làm công tác nghiên cứu về CNSH có bằng TS phải tính đến vài trăm người, chưa kể lực lượng đông đảo sinh viên đang làm TS. Trong khi đó chúng ta chỉ có vài người đến vài mươi người; một khoảng cách đến 10 lần khác biệt.


Vấn đề quan trọng nhất của công tác nghiên cứu là trang thiết bị và con người, mà theo tôi, con người đóng vai trò quyết định. Các phòng thí nghiệm của Việt Nam những năm gần đây đã có được một số trang thiết bị cơ bản. Chúng ta có thể tiến hành các nghiên cứu ứng dụng cần thiết. Song vấn đề nhân lực đang là điểm yếu của các phòng thí nghiệm trọng điểm. Có rất nhiều trang thiết bị đang nằm chờ người sử dụng năm này sang năm khác mà cuộc đời của các trang thiết bị này lại không dài, rất dễ lỗi thời. Để 1 triệu USD trang thiết bị đắp chiếu nằm yên có nghĩa là chúng ta đang lãng phí khoảng 100.000 USD/năm, đủ tiền trả lương và kinh phí cho gần 40 người làm việc. Không ít triệu đô la đang đắp chiếu nằm chờ trong các phòng thí nghiệm. Vậy nên, việc đào tạo nhân lực là việc cần đi trước việc mua sắm trang thiết bị, hoặc ít ra phải đi song song.



Sử dụng trí thức


Đào tạo được nhân lực xong chưa phải là hết, sử dụng họ như thế nào cho hiệu quả mới là quan trọng. Hiện tại ở Việt Nam chưa có bậc lương rõ ràng cho bằng cấp và sự hiểu biết. Người làm nghiên cứu bỏ ra ba lần thời gian cho học tập so với những người có trình độ trung cấp, nhưng trên thực tế thu nhập của họ chưa đáp ứng một cách có hiệu quả cho việc đầu tư lâu dài và gian khó đó. Còn có quá nhiều người làm nghiên cứu mà vẫn phải nghĩ đến cơm áo gạo tiền mỗi ngày.


Tuy vậy, ở nước ngoài, không phải ai có bằng TS cũng đều được trả lương cao. Người ta chỉ trả lương cao cho ai có bằng TS mà được sử dụng đúng nghề và được có việc làm cho nghề được học. Những người có bằng cấp mà làm không đúng nghề thì chỉ được trả lương theo công việc của nghề đó. Sự chênh lệch về lương của người có bằng TS với người không có bằng cấp vào khoảng 3 lần, tương đương với số thời gian học mà họ đã đầu tư. Thậm chí, ở các nước đang phát triển, khoảng cách đó là 5-10 lần. Chúng ta đang có một khoảng cách quá nhỏ giữa hai loại học vấn trên, cho nên cần có sự điều chỉnh nhất định nếu muốn có nhiều trí thức thực sự làm việc theo sự hiểu biết của họ.


Ngoài vấn đề chính sách tiền lương, đầu tư cho các chương trình nghiên cứu, cách quản lý các chương trình đó cũng đang có nhiều vấn đề. Thường thì các đề tài nghiên cứu đều phải ký hợp đồng nghiệm thu sản phẩm. Đã biết trước sản phẩm phải giao nộp thì nghiên cứu sẽ mang tính trả bài (hay trả nợ) mà không phải nghiên cứu nào cũng làm được. Người ta chưa có thói quen nhận kết quả nghiên cứu là một thất bại. Thất bại ở đây là thất bại so với cái chúng ta muốn đạt được. Ví dụ như chẳng ai dám nói chừng nào mới có thuốc chữa bệnh HIV/AID hoàn hảo. Vậy sao vẫn có hàng ngàn hay hàng vạn đề tài về HIV vẫn được cấp kinh phí hàng năm trên thế giới, vì người ta chấp nhận thất bại để làm lại hướng nghiên cứu khác. Theo tôi, quản lý nghiên cứu khoa học ở Việt Nam nên theo khối lượng công việc làm được chứ đừng quản lý theo kết quả phải giao nộp. Nó sẽ mở ra cho các nhà nghiên cứu nhiều sáng tạo bất ngờ. Lúc bấy giờ, các nghiệm thu không còn là công việc hình thức.



Thu hút trí thức


Tuy nhân lực là ưu tiên hàng đầu cho sự phát triển công nghệ, song các phòng thí nghiệm cần có những người giỏi đứng đầu. Quân không cần đông mà cần tinh, nhất là phải cần tướng giỏi. Những người đầu đàn phải là những người giỏi, có kinh nghiệm và đã được thử thách. Trong khoa học hiện tại, các nước trên thế giới đang ra sức tìm người tài cho các dự án. Có các người giỏi thì họ sẽ tự đào tạo được phần nào nhân lực cho họ. Ngược lại, không phải ai được gởi đi đào tạo cũng trở thành người giỏi. Do vậy, việc chiêu hiền tìm người đầu đàn là việc tối quan trọng trong lúc này.


Một trong những người cần chiêu hiền là những người đang thành công ở nước ngoài. Đó là những giá trị thực. Song, làm sao mời được họ về làm cho mình là cả một vấn đề nan giải. Trước hết mình phải có chính sách chiêu hiền những người chủ chốt. Những người này sẽ tiến cử hay tìm những người tài khác. Không giỏi làm sao biết người khác giỏi hay kém. Những khoản lương hậu hĩnh, những điều kiện làm việc tốt thường là phương pháp của nước ngoài. Việt Nam nếu muốn có được những người tài, ngoài kêu gọi lòng yêu nước chắc chắn cần phải áp dụng những phương pháp của nước ngoài vẫn đang làm để có thể bắt nhanh với nền kinh tế hội nhập.


Thay lời kết, tôi xin trích một câu nói bất hủ của một nhà tuyển dụng Canada: “Anh muốn lãnh lương bao nhiêu cũng được, miễn là anh mang về cho tôi 3 lần lợi nhuận so với mức lương đó”.


TSKH Nguyễn Quốc Bình (Phó giám đốc Trung tâm
Công nghệ sinh học TPHCM, Việt kiều Canada về nước làm việc từ năm 2004)